Hero Background

Pháp Luân Công

Tu luyện tâm tính, cải thiện sức khỏe, tìm về bản tính chân thật

Pháp Luân Công là một phương pháp tu luyện tâm tính cổ xưa của Trung Quốc, được khôi phục và truyền dạy bởi Đại sư Lý Hồng Chí từ năm 1992. Phương pháp này dựa trên ba nguyên lý cơ bản: Chân (Truthfulness), Thiện (Compassion), và Nhẫn (Forbearance).

Pháp Luân Công Tốt Hay Xấu

Tu luyện tâm tính, cải thiện sức khỏe, tìm về bản tính chân thật

Pháp Luân Công là gì ?

Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công) là môn tu luyện Phật gia thượng thừa, do ông Lý Hồng Chí, Sư phụ của pháp môn sáng lập. Pháp môn lấy [việc] đồng hoá với đặc tính “Chân Thiện Nhẫn” của vũ trụ làm căn bản, lấy đặc tính tối cao của vũ trụ làm chỉ đạo, là chiểu theo nguyên lý diễn hoá của vũ trụ mà tu luyện. Các bài giảng của Sư phụ Lý được trình bày trong nhiều kinh thư, trong đó có Pháp Luân Công, Chuyển Pháp Luân, Đại Viên Mãn Pháp, Tinh tấn Yếu chỉ và Hồng Ngâm. Các tác phẩm này và các tác phẩm khác đã được dịch thành 38 ngôn ngữ, và được xuất bản và lưu truyền trên khắp thế giới.

Đại sư Lý Hồng Chí – Người sáng lập Pháp Luân Công

Giải thưởng và đề cử quốc tế

  • Giải Sakharov: Được hơn 25 thành viên Nghị viện Châu Âu đề cử (2001). Wikipedia.
  • Giải Nobel Hòa bình: Được đề cử các năm 2000 và 2001. Wikipedia.

Thành tựu và ghi nhận trước năm 1999 (trước khi bị bức hại ở Trung Quốc)

Tại Trung Quốc:

  • 9/1992: Pháp Luân Công được công nhận thuộc Hội Nghiên cứu Khoa học Khí công Trung Quốc.
  • Hội chợ Sức khỏe Đông phương 1992 (Bắc Kinh): Nhận nhiều giải thưởng, là khí công sư được vinh danh nhiều nhất.
  • 31/8/1993: Nhận “Thư tri ân” từ “Hội Người tốt Việc tốt” thuộc Bộ Công an Trung Quốc.
  • Cuối 1993: Tại Hội chợ Sức khỏe Đông phương, nhận “Giải thưởng Khoa học Liên ngành Tiên tiến”, “Giải Vàng Đặc biệt” và danh hiệu “Khí công sư được quần chúng hoan nghênh nhất”.
  • 27/12/1993: Nhận bằng khen từ “Hội Người tốt Việc tốt”, Bộ Công an Trung Quốc.  vn.minghui.org

Trên thế giới:

  • 3/8/1994: Thành phố Houston (Hoa Kỳ) tôn vinh “Công dân Danh dự” và “Đại sứ Thiện chí”. vn.minghui.org
  • 12/10/1996: Houston tiếp tục trao danh hiệu tương tự, ấn định “Ngày Lý Hồng Chí”.
  • 8/8/1999: Bang New Jersey tuyên bố “Ngày Lý Hồng Chí”.
  • 9/8/1999: Thị trưởng Washington, D.C. tuyên bố tuần lễ “Pháp Luân Đại Pháp”.
  • 29/11/2000: Hội đồng thành phố New York tuyên dương ông và các học viên về sự can đảm, kiên định.
  • 14/3/2001: Freedom House trao “International Religious Freedom Award” cho ông và Pháp Luân Đại Pháp.

Các ghi nhận khác:

  • 2007: Đứng thứ 12 trong “Danh sách 100 thiên tài đương đại” – người Hoa có ảnh hưởng toàn cầu.
  • Đến 4/2001: Nhận hơn 340 giải thưởng, tuyên dương từ nhiều quốc gia (Úc, Canada, Nhật, Nga, Mỹ…).
  • Hơn 10.000 bức thư khen ngợi, cảm ơn từ các tổ chức, nghị sĩ, chính phủ quốc tế. vn.minghui.org chanhkien.org Wikipedia 

Một số khác

  • 2007: Ông được xếp vào vị trí thứ 12 trong “Danh sách 100 thiên tài đương đại” — người Hoa đương đại có sức ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu chanhkien.org.
  • Số lượng khen tặng: Tính đến tháng 4/2001, ông đã nhận hơn 340 giải thưởng và tuyên dương từ nhiều quốc gia như Australia, Canada, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ… bao gồm các giấy chứng nhận và danh hiệu từ nhiều cơ quan chính phủ Wikipedia.
  • Ngoài ra, còn có hơn 10.000 bức thư khen ngợi và cảm ơn từ các tổ chức, nghị sĩ, chính phủ quốc tế gửi về nhằm ủng hộ đạo Pháp Luân Đại Pháp và ông chanhkien.org.

Kết luận: Dựa vào những giải thưởng và sự công nhận trên, có thể khẳng định ông là người có tầm ảnh hưởng lớn, mang theo hệ tư tưởng sâu sắc và tạo giá trị to lớn cho cộng đồng, nhân loại.

Chúng ta hãy cùng xem thêm video dưới đây để có cái nhìn khách quan nhé

Pháp Luân Công là tốt hay xấu

Ngoài ra bạn có thể xem 1 số video sau để xem nhiều người chia sẻ về Pháp Luân Công:

Bắt Đầu Học Pháp Luân Công Như Thế Nào?

  1. Bạn có thể truy cập Link đọc sách miễn phí:

https://vi.falundafa.org/falun-dafa-books.html?v=bks04

Cuốn sách chính chỉ đạo tu luyện: 

https://vi.falundafa.org/book/zfl_2024_html/index.html

Học các động tác tại:

https://vi.falundafa.org/falun-dafa-video-audio.html

  1. Hoặc tham gia học trực tuyến tại: https://hocphapluancong.com
  2. Đến các công viên gần nhà mình lúc 5h sáng và nhờ người đang tập luyện tại đó hướng dẫn mình học pháp và luyện công

Bắt đâu học như thế nào ?

Câu Hỏi Thường Gặp

Những câu hỏi thường gặp về Pháp Luân Công

Pháp Luân Công là một môn tu luyện tinh thần và thể chất dựa trên các nguyên lý Chân, Thiện, Nhẫn. Nó bao gồm các bài tập thiền định và các bài giảng về đạo đức để cải thiện tâm tính.
Pháp Luân Công được giới thiệu bởi ông Lý Hồng Chí tại Trung Quốc vào năm 1992. Nó bắt nguồn từ các truyền thống tu luyện cổ xưa của Trung Quốc.
Tà đạo có những đặc điểm cố hữu: một là thu phí, bởi vì nó vì kiếm tiền mà tồn tại, nếu không thì sẽ hại sức khoẻ, bởi vì chính hay tà đều có những nhân tố đằng sau, cho nên nếu không lấy tiền của người ta thì sẽ lấy đi phần tinh khí của người ta. Do vậy sẽ hại sức khoẻ, tinh thần cũng ngày càng mất kiểm soát. Cái tà cũng hay lôi kéo kiểu như gia nhập sẽ có thêm công danh, lợi lộc. Một số trường hợp còn khuyến khích tranh quyền đoạt lợi, thậm chí sát sinh. Một số trường hợp còn lấy danh nghĩa để tranh đấu chính trị, thậm chí khủng bố kiểu “tử vì đạo”…Một đặc điểm phổ biến nữa của tà đạo không chỉ lôi kéo dụ dỗ bằng những danh lợi, mà khi muốn rút khỏi thì thường bị đe doạ mất mát về danh, về lợi ích hay thậm chí mạng sống. Ngay trong những chính giáo, chính đạo cũng luôn có những kẻ mượn danh nghĩa tôn giáo để bày ra những nghi lễ nào đó, phán định nguy cơ mất mát gì đó, mục đích cũng để lấy tiền của của người ta. Đó gọi là đi theo đường tà trong chính giáo, phá hoại tôn giáo từ bên trong, làm bại hoại tôn giáo. Với Pháp Luân Công, những nội dung như thu phí, khuyến khích mưu cầu danh lợi, hay tham dự chính trị, sát sinh đều là những điều cấm kị. Người tu luyện nào dính mắc vào những điều đó nhìn chung đều không thể tu luyện được nữa. Việc tham gia cũng không cần ai cho phép, bởi vì tu luyện là mỗi người phải tự giác tu sửa bản thân, nguyên lý đã có sẵn ở đó, bất cứ ai cũng không thể cưỡng chế tu chỉnh người khác được. Ai không muốn tu luyện đều có thể tự thôi, không có thủ tục gì. Riêng về sức khoẻ, nói chung tu luyện Pháp Luân Công đều phải có mức độ gian nan nhất định khi luyện tập, thậm chí việc đề cao tâm tính còn gian nan hơn. Bởi vì khi đối diện với mâu thuẫn, nhưng vẫn phải nỗ lực để bao dung, Nhẫn nhường, cố gắng đối xử Thiện với người khác, khi đối diện với được mất lợi ích vẫn phải Chân thật. Những việc đó nói thì dễ, làm được trong thực tế rất khó khăn. Phải có nguyên lý hướng dẫn, thì dần dần người ta mới làm được tốt. Những gian nan về thân và tâm đó lại giúp người ta bồi bổ sinh khí, tinh thần chủ động hơn trước những biến động trong cuộc sống. Nó trái ngược với cái tà, do vậy cái gì là chính, là tà thực ra không khó để phân biệt.
Pháp Luân Công giúp cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần thông qua thiền định, các bài tập nhẹ nhàng và nâng cao tâm tính, giúp giảm stress và tăng cường sức khỏe tổng thể.
Thông thường nếu người ta theo một tôn giáo nào đó, thì cũng phủ định các nghi lễ hay tôn giáo khác. Pháp Luân Công chỉ là tu luyện chứ không phải là tôn giáo, không có nghi lễ nên cũng không yêu cầu người tập phải từ bỏ nghi lễ trong cuộc sống. Có lẽ nhiều người trước khi tu luyện Pháp Luân Công thì việc thờ cúng ông bà tổ tiên và đi chùa đã mang nặng tâm lý truy cầu. Khi họ hiểu được bản chất của các nghi lễ đó thì họ có thể làm các việc đó một cách nhẹ nhàng hơn. VD việc thờ cúng ông bà tổ tiên là thể hiện chữ Hiếu – là sự ghi nhớ công đức nuôi dạy của ông bà tổ tiên, cũng để cầu mong cho tổ tiên được siêu thoát, chứ không phải để cầu xin sự giúp đỡ từ người đã khuất. Hay việc đi chùa bái Phật là để người ta sám hối những lỗi lầm và thể hiện tâm nguyện sẽ sửa đổi tâm tính theo những gì Phật dạy, thay vì tới để cầu xin Thần Phật giúp cho phát tài, giải nạn… Tất nhiên những người chuyên tu theo tôn giáo như Phật giáo thì đều phải rời bỏ gia đình, nên đương nhiên không còn thờ cúng ông bà tổ tiên. Tu luyện Pháp Luân Công không theo hình thức tôn giáo, chỉ chú trọng tới tự tu sửa tâm tính. Bản chất thực của văn hoá truyền thống đều là trọng đức, tôn trọng tự nhiên và sinh mệnh, kính ngưỡng Thần Phật. Văn hoá Á Đông chủ yếu được truyền ra từ ba tín ngưỡng chính, Phật gia khuyến khích tích đức hành Thiện, Nho gia giảng về nhân nghĩa lễ trí tín và sự cao dung Nhẫn nhường, Đạo gia nhấn mạnh về Chân và đạo lý thuận theo tự nhiên. Nguyên lý của Pháp Luân Công tựu chung lại là ba chữ Chân Thiện Nhẫn, nên tương hợp với bản chất của văn hoá truyền thống.
Pháp Luân Công không có bất cứ một ràng buộc nào, lại càng không ngăn cấm điều trị bằng các phương pháp khác khi tập luyện. Tuy nhiên, để tu luyện Pháp Luân Công có hiệu quả về chữa bệnh thì người tập cũng phải nỗ lực đề cao tâm tính, thường xuyên đọc sách để hiểu rõ hơn nguyên lý. Do đó, kết quả với mỗi người là khác nhau, trong khi bệnh của họ lại nặng thì kết quả rất có thể sẽ không ổn. Thực chất Pháp Luân Công là để tu luyện chứ không có mục đích cuối cùng là chữa bệnh, và ngay từ đầu trong sách cũng đã nói về việc không cho phép người mang bệnh nặng tới học. Nhưng số người đến với Pháp Luân Công để chữa bệnh chiếm một tỉ lệ rất cao, trong đó có nhiều người bệnh nan y đã không thể điều trị bằng các phương pháp khác. Rất nhiều người đã thực sự khỏi bệnh hoăc chuyển biến tốt. Nói ở góc độ khác thì so với bất cứ phương pháp nào khác, Pháp Luân Công cũng đã thể hiện khả năng chữa bệnh và nâng cao sức khỏe tốt nhất rồi.
Tu luyện Pháp Luân Công là giúp người ta có được cuộc sống tốt hơn. Bởi vì khi sức khỏe cải thiện, tinh thần bớt căng thẳng thì mâu thuẫn trong cuộc sống cũng ít và dễ giải quyết. Đối với xã hội và quốc gia, nếu nhiều người tu tâm hướng thiện, không làm điều xấu đương nhiên cũng có tác động tích cực. Các môn tu luyện trong quá khứ, hoặc chuyên tu theo Phật giáo thường phải lựa chọn rời bỏ cuộc sống, gia đình, tên họ cũng bỏ. Tuy nhiên Pháp Luân Công tu luyện trong cuộc sống đời thường. Do vậy yêu cầu về sự đảm bảo phù hợp với cuộc sống và công việc đời thường, đã được nói rõ và nhắc lại nhiều lần trong sách của Pháp Luân Công. Có thể có một số cá biệt hành xử thiếu chuẩn mực, nhưng do trong sách của Pháp Luân Công đã khuyến cáo rõ về vấn đề này nên đa số họ sẽ điều chỉnh lại, tu luyện Pháp Luân Công cần phải phù hợp tối đa với cuộc sống bình thường.
Đúng là nhiều học viên Pháp Luân Công thường xuyên nói về cuộc đàn áp của ĐCSTQ với Pháp Luân Công tại Trung Quốc. Nhưng ĐCSTQ là một lực lượng chính trị, do vậy người nghe dễ liên tưởng là Pháp Luân Công có mục đích chính trị khi nhắc tới ĐCSTQ. Tại Trung Quốc, ĐCSTQ đã thiết lập một lối nghĩ cho người ta rằng bất cứ ai nói sự thật về ĐCSTQ thì lập tức kết luận người đó là “làm chính trị”, là “phản động”. Làm chính trị thường là các hoạt động nhằm mục đích đạt được quyền lực chính trị, như vậy thì Pháp Luân Công tuyệt đối cấm kị. Nhưng do trong quá trình đàn áp, ĐCSTQ luôn đi kèm với vu khống những điều tệ hại nhất đối với Pháp Luân Công. Do vậy học viên Pháp Luân Công sau nhiều năm chịu đàn áp đã quyết định nói sự thực về bản chất của ĐCSTQ. Bởi vì nếu mọi người đều hiểu được bản chất của ĐCSTQ thì không dễ dàng tin theo những gì họ nói, mọi người có thể trầm tĩnh tìm hiểu xem Pháp Luân Công là gì, từ đó tự mỗi người có được sự nhìn nhận độc lập. Theo quan điểm của văn hoá truyền thống, nếu người ta vì hiểu sai mà phỉ báng, thậm chí trợ giúp kẻ bức hại tín ngưỡng thì tương lai đương nhiên sẽ chịu hậu quả. Do vậy các học viên có xu hướng vừa nói về sự thực của Pháp Luân Công, vừa nói về sự sai trái của cuộc bức hại và bản chất của kẻ bức hại là ĐCSTQ. Điều đó hoàn toàn không phải là “làm chính trị”, là “chống cộng” hay “phản động” gì đó. Mục đích thực sự là để mọi người có đầy đủ thông tin để lựa chọn phân biệt thiện – ác, đó là lựa chọn cho tương lai.
Mọi người quan tâm có thể tham khảo điều này qua video phân tích của giới luật sư, sẽ hiểu rõ theo luật định. Dùng tờ rơi chia sẻ thông tin về môn tập là việc bình thường và không vi phạm luật pháp. https://www.youtube.com/watch?v=zoCR8iRi0cI&t=6s Tinh thần chúng nhất của Hiến pháp và luật pháp tại Việt Nam là “công dân được làm những gì nhà nước không cấm”. Không có văn bản pháp luật nào của Nhà nước Việt nam cấm tu luyện Pháp Luân Công: https://www.youtube.com/watch?v=LsDr4bw4M60
Một số người tập lâu năm ước lượng tổng số người đang tập Pháp Luân Công tại Việt Nam là khoảng 10 vạn người, con số người chọn cách tập luyện ở nơi công cộng vẫn chiếm một tỉ lệ nhỏ. Bởi vì tập luyện Pháp Luân Công hoàn toàn có thể tập luyện một mình. Tuy nhiên, thường thì người ta tập luyện nơi công cộng có nhiều kết quả hơn. Bởi vì tu luyện khí công có một khái niệm về trường năng lượng nên tập đông người sẽ tốt hơn, cũng có một môi trường giao lưu học hỏi lẫn nhau và cũng giống như nhiều môn tập luyện khác, nhiều người dễ bỏ dở nếu tập tại nhà nên họ lựa chọn tập ở ngoài công cộng. Hầu hết người tập Pháp Luân Công đều thông qua người khác giới thiệu nên biết tới, khi thu được kết quả về sức khỏe, khỏi bệnh và cải thiện cuộc sống tinh thần, họ lại có xu hướng muốn chia sẻ với người khác. Nguyên lý Chân Thiện Nhẫn của Pháp Luân Công cũng bao hàm trong đó thiện tính của con người, tức là mong muốn điều tốt cho người khác. Do vậy đa số người tập Pháp Luân Công đều nhiệt tình giới thiệu với người khác. Khu vực thành thị thường có nhiều người tập Pháp Luân Công hơn, cũng có nhiều điểm tập luyện công cộng hơn nông thôn nên dễ thấy các điểm luyện tập hơn. Mặc dù vậy, tỉ lệ người tập Pháp Luân Công trẻ tuổi cũng chiếm tỉ lệ cao, nhưng thường họ ít có điều kiện tham gia tập luyện chung vì công việc bận rộn, cho nên số người tập ở điểm công cộng không chiếm tỉ lệ cao.

Chia sẻ từ người tu luyện

Những câu chuyện thực tế từ người tu luyện Pháp Luân Công

Chia sẻ từ anh Nguyễn Nhật Anh

" Trước đây tôi không tin thần Phật thật sự tồn tại, nhưng trong quá trình tu luyện, thì những gì tôi đọc trong sách Chuyển Pháp Luân cứ dần dần hiện hưu rất chân thực đã giúp tôi thay đổi cái nhìn hạn hẹp xưa kia của mình. Tôi mong mọi người có thể tìm hiểu kỹ hơn về Đại Pháp đừng bị lừa dối bởi những thông tin sai lệch trên internet

Chia sẻ từ Bác Phạm Huy Thắng (sinh năm 1948, ở Hà Nội)

Bác Phạm Huy Thấng (sinh năm 1948, ở Hà Nội) vốn là người vô thần, không tin vào chuyện tâm linh, Thần Phật. Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, bác về dạy môn Vật lý cấp 3; cũng vì vậy mà bác lại càng tin vào khoa học hơn. Bác chọn lối sống lành mạnh, sinh hoạt điều độ, tập thể dục thể thao; bác còn tập cả dịch cân kinh, suối nguồn tươi trẻ, phương pháp nào tốt cho sức khỏe thì bác đều tìm hiểu và học. Nhưng tuổi già đến nhanh khiến bác trở tay không kịp. Năm 2009, khi vừa về hưu thì bệnh tật đột nhiên xuất hiện rất nhiều, bác bị xuất huyết đáy mắt, đi khám thì bác sĩ nói vẫn còn may mắn vì bác bị xuất huyết đáy mắt do huyết áp cao chứ không phải vì tiểu đường, hơn nữa máu trong đáy mắt không vào điểm vàng, nên đỡ nguy hiểm hơn; nếu không thì bác có thể bị mù hẳn; nhưng bệnh này cũng khiến mắt bác kém đi rất nhiều, đọc chữ rất khó khăn. Về sau bác còn bị thêm rối loạn nhịp tim, động mạch vành, tắc tĩnh mạch, mất ngủ, tiểu đường, ù tai (trong tai lúc nào cũng có tiếng ve cồ cộ kêu). Trước đây mỗi ngày bác đều đi bộ khoảng 10km, nhưng sau đó dần dần chân bác không đi như vậy được nữa, thậm chí muốn lên cầu thang bác còn phải đu tay vịn để bước đi. Ngày 5/11/2013, một người bạn cũ ghé thăm bác Thấng; chỉ 2 năm không gặp mà bác Thấng thấy bạn của mình trẻ ra rất nhiều, thoạt đầu bác còn không nhận ra. Hỏi thăm mới biết bạn của bác tu luyện Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công), bác như thấy được một tia hy vọng cuối cùng, nên mới nhờ người bạn hướng dẫn cho mình học. Nhưng vì vẫn ôm giữ quan niệm vô thần cố hữu, nên bác học mà không tin. Hàng ngày bác chăm chỉ đọc sách Chuyển Pháp Luân (quyển sách chính của Đại Pháp) và tập 5 bài công pháp, nhưng bác vẫn không hiểu gì về tu luyện, mà chỉ coi đây như là một môn tập để cho khỏe người. Trong lòng bác chưa có sự kính ngưỡng đối với Sư phụ Đại Pháp (Đại Sư Lý Hồng Chí), bác cũng chưa coi vị Đại Sư ấy là thầy của mình. Sau 10 tháng tập luyện, cơ thể bác không có gì thay đổi, tinh thần cũng không có gì cải biến. Vì tin vào khoa học nên bác Thấng phải thấy mới tin, không thấy không tin, bác dự định sau 1 năm theo học Đại Pháp mà không thấy có hiệu quả gì thì sẽ thôi không tập nữa, mà chỉ chắt lọc lại những gì bác cho là hay và tự học theo cách riêng của mình. Đúng lúc này thì kỳ tích xảy ra! 3 giờ chiều ngày 27/8/2014, bác đi luyện công như thường ngày, khi vừa luyện được khoảng 20 phút thì tự nhiên bác thấy thân thể linh hoạt lạ thường, trong người cảm thấy có một luồng sức mạnh tiềm tại, cảm giác như được phục sinh. Bác Thấng nhớ lại giây phút đó: “Lần đầu tiên tôi gọi Đại Sư Lý Hồng Chí là Sư phụ, mà gọi trong nước mắt. Tôi khóc một cách tự nhiên, nước mắt tràn trề, chảy xuống cả người tôi. Tôi nói ‘Sư phụ ơi, con khỏi rồi!’” Bác xin Sư phụ cho dừng lại để kiểm tra cái cảm nhận này, và bác chạy một mạch từ tầng 1 lên tầng 4, thấy người nhẹ bẫng; trong khi đó trước đấy nếu muốn lên thì bác phải bò, đu lên từng bậc. Thực sự là quá kỳ diệu! Bác lúc này đã lập tức thay đổi quan niệm của mình, bác tin Thần Phật là có thật, những điều không nhìn thấy thì vẫn có thể tồn tại. Bác chính thức bước vào tu luyện Đại Pháp kể từ ngày hôm đó. Khoảng 1 năm sau, bác thấy toàn thân khỏe mạnh, không còn cảm giác bị bệnh tật gì nữa; mắt bác đã nhìn lại được rõ, xâu kim không cần kính; tai đã nghe được tốt, không còn bị ù như trước; những căn bệnh khác cũng dần dần biến mất lúc nào mà bác không hay. Bác không cần phải đi bệnh viện hay uống thêm bất kỳ một viên thuốc nào nữa. Trước đây bác Thấng nghĩ chỉ cần khỏi được một căn bệnh trong số những bệnh bác đang mắc phải thôi thì tốn bao nhiêu tiền bác cũng không tiếc, vậy mà tu luyện Đại Pháp bác lại khỏi được hết bệnh mà không phải tốn một đồng nào, sống an nhiên tự tại; nên không thể dùng từ gì mà diễn tả được niềm cảm ân của bác đối với Đại Pháp.

Ngô Thị Hiền,Bình Dương 0965 976 019.

Từ nhỏ tôi đã sống trong những băn khoăn của vô vàn câu hỏi về sinh mệnh và ý nghĩa của sự sống. Tôi thường hỏi mẹ: “Mẹ ơi, con là ai? Con sinh ra từ đâu? Vì sao con người lại chết? Sau khi chết sẽ như thế nào?” Dĩ nhiên, mẹ tôi chẳng thể giải đáp cho tôi, bởi gia đình tôi vốn vô thần, không tôn giáo, không tín ngưỡng. Tôi cảm thấy, nếu như con người ai cũng phải chết, vậy thì đời người chẳng phải là một hành trình không ngừng tiến về phía cái chết? Điều này khiến tôi rất sợ hãi và hoang mang. Từ nhỏ tôi đã mang trong mình những tư tưởng, cảm xúc chẳng giống ai. Tôi rất mẫn cảm với các trường năng lượng và có thể cảm nhận được sự sống, cảm xúc và đau khổ của mọi sinh vật. Tôi có thể cảm nhận được hơi thở của từng cái cây, từng loài động vật nhỏ dù không thực sự nói chuyện được với chúng. Từng nhành cây bị gãy, nhựa nước trong thân ứa ra, cũng khiến tôi đau lòng rơi lệ. Xót xa với cả những bông hoa xinh đẹp bị người ta giẫm nát dưới chân, tôi thường lén nhặt nó bỏ lại vào gốc cây. Thế nhưng, tất cả những hành vi này của tôi bị cho là bất thường trong mắt mọi người. Cũng may là kết quả học tập của tôi khá ổn, nếu không thì ngay cả cha mẹ cũng cho rằng tôi có vấn đề về tâm thần. Không ai hiểu được tôi và tôi cũng không hiểu thế giới này. Đôi khi tôi mải chơi đùa, giẫm phải chân chú chó trong nhà, liền ngồi xuống rối rít xin lỗi nó, thế là tôi bị chửi; khóc thương cho một chú chim nhỏ đã chết cũng bị chế giễu. Tôi lớn lên ở một vùng quê nghèo, những trò chơi bắt dế, bắt cào cào, chuồn chuồn,.. đương nhiên tôi chẳng thể chơi cùng đám bạn. Tôi cũng biết mình dị biệt, nên ngày càng trở nên tự ti, và bị cô lập với bạn bè cùng trang lứa, thậm chí còn bị đặt biệt danh là ‘hâm’. Còn nhiều chuyện kỳ lạ khác, mà ở độ tuổi lên 4, lên 5 tôi không thể nào liễu giải, đã trở thành nỗi ám ảnh suốt tuổi thơ. Mỗi khi xòe bàn tay ra, rất nhiều thước phim hiện ra ở giữa những đốt ngón tay tôi, thậm chí thấy cả ‘chính mình’ của tương lai. Điều này khiến tôi vô cùng sợ hãi, tới nỗi tôi hình thành thói quen luôn nắm chặt tay mãi cho tới khi lớn. Tôi luôn cảm thấy cô đơn và bất lực trước thế giới này, và phải cố gắng để quên đi những câu hỏi về nhân sinh không có lời giải đáp, có lúc tôi chỉ ước được giống như bạn bè, có thể vô tư hồn nhiên nô đùa, vô ưu vô lo…. Thế rồi, tôi cũng dần lớn lên, tôi cũng hòa nhập được với xã hội. Vốn là đứa trẻ yếu ớt, nhiều bệnh tật, nên từ nhỏ cha mẹ khá bao bọc tôi, tư tưởng của tôi về cơ bản là khá thuần khiết, ngây thơ hơn so với bạn bè. Nhưng cũng chính vì điều này, mà tôi đã gặp phải vô số khổ nạn khi lần đầu rời xa cha mẹ, bước chân ra mảnh đất Hà Thành để học hành và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp. Vì tôi rất tin người, tôi chỉ biết dùng suy nghĩ của mình để liễu giải về người khác. Cha mẹ tôi đều là những người nông dân vô cùng chất phác, thật thà và sống đạo đức, nên tôi càng không có quá nhiều khái niệm phức tạp. Ví như tôi tin rằng con người là lương thiện, tôi không hiểu về người xấu, tôi cũng không có nhiều khái niệm về nó, hay ‘lừa đảo’, phản bội, đều là những điều tôi không nghĩ đến. Ai nói gì thì tin nấy, tôi cứ dốc lòng trong mọi mối quan hệ, và mọi công việc. Thế nhưng, dùng tâm thái đó để đối mặt với một xã hội đầy phức tạp, tôi đã phải trả giá rất nhiều. Tôi cũng tập tành yêu đương, kết giao với rất nhiều bạn bè mới từ khắp mọi miền. Nhưng rồi, những cú sốc đầu đời liên tục ập đến, không có cha mẹ ở bên, không có ai bảo vệ, không hiểu thế sự, không hiểu lòng người, tôi của năm đó chẳng khác nào một ngọn cỏ mong manh trước gió… Tôi bị phản bội, bị lừa dối, thậm chí là rất nhiều chuyện đau lòng khác. Chỉ vẻn vẹn chưa tới 2 năm tự mình trải nghiệm cuộc sống, mà tưởng như đã 20 năm đời người. Vào lúc mất hết niềm tin vào cuộc sống, tôi đã nuốt khoảng 50 viên thuốc ngủ, rồi lặng lẽ lên giường chờ đợi sự kết thúc đến với mình. Nhưng lạ thay, trong khoảnh khắc chịu đựng những cơn đau đầu khó thở dữ dội, tôi lại thấy hình ảnh một vị Phật màu vàng kim, và ngay sau đó tôi ói hết sạch mọi thứ. Đột nhiên như có dòng năng lượng nào đó chảy khắp thân, khiến tôi trở nên tỉnh táo, phấn chấn hẳn lên. Tôi nghĩ, nếu đã không thể chết, vậy thì phải thay đổi, phải sống tiếp. Sau lần tự tử không thành, trong đầu tôi luôn nghĩ về hình ảnh vị Phật kia. Gia đình tôi vô thần nên tôi vốn chưa từng biết đến Phật Pháp. Tôi cũng không có hảo cảm với chùa chiền, vì quê tôi, ở chùa người ta thờ đủ thứ, hầu đồng và lễ bái rất nhiều, khiến mỗi lần lên chùa tôi đều cảm thấy khó chịu và sợ hãi. Đang trong lúc vô định ấy, thì một người bạn rủ tôi đi chùa, một ngôi chùa cổ ở Huế, cũng tại nơi này tôi đã gặp một người tu hành có công năng – đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nhận thức về Thần Phật của tôi. Mọi ký ức thuở nhỏ đột nhiên ùa về, tôi nhớ lại những câu hỏi, nhớ lại những linh cảm của bản thân. Từ nhỏ tôi luôn cảm thấy đời này của mình không thể sống vô nghĩa được, mình sống phải vì một điều gì đó thật ý nghĩa, dường như mình có sứ mệnh nào đó, nhưng tôi không biết đó là gì. Thế nhưng, từ khi gặp vị sư cô kia, tôi cảm thấy mình phải trở thành một tu sĩ, để cứu độ hết chúng sinh khốn khổ trong bể luân hồi. Ở bên sư cô, tôi có cơ hội tiếp xúc với rất nhiều điều siêu thực – những điều mà một thanh niên của thời đại mới như tôi vốn không bao giờ tin. Thông qua sư cô, tôi có thể trò chuyện với các linh hồn. Điều kỳ lạ là các linh hồn này đều biết rất rõ về tôi, họ yêu mến mà gọi tôi là ‘bé đẹp’, họ kể cho tôi nghe rất nhiều câu chuyện, từ cổ chí kim. Đặc biệt, họ đều nói tôi có căn tu, và khuyên tôi buông bỏ thế tục để tu hành. Tu hành có thể cứu độ hết thảy chúng sinh. Thế là không suy nghĩ gì nữa, tôi chắc chắn đó là sứ mệnh mà tôi cần làm trong đời này và tôi đã phát nguyện tu hành trong Phật giáo. Điều này khiến gia đình tôi phản ứng rất dữ dội. Ai cũng cho rằng tôi thực sự có vấn đề về đầu óc, nhưng tôi lại vô cùng vui vẻ. Tôi cắt phăng mái tóc dài, gửi về quê cho mẹ, quyết dứt áo đi tu. Năm ấy tôi 19 tuổi. Tôi vui vẻ như chú chim chào ngày mới, hớn hở chờ đợi con đường đầy hạnh phúc phía trước. Vẫn là tâm thái ấy, gặp ai cũng tin, gặp thầy nào cũng kính. Tôi khao khát tu hành, tôi say mê đọc mọi sách vở kinh điển của Phật giáo, càng đọc tôi càng thấy như lạc vào một thế giới rộng lớn. Cùng với hành trình không ngừng học hỏi từ kinh điển, nhận thức của tôi cũng không ngừng thay đổi. Tuy nhiên, những nhận thức ấy lại không ngừng xung đột với thực tế. Kinh, sách diễn giảng Phật Pháp nhiều vô kể, pháp môn cũng nhiều, giảng sư cũng rất nhiều, mỗi người mỗi ý, chính những lời giảng và đường lối giữa các vị thầy cũng có nhiều mâu thuẫn, xung đột, khiến tôi không biết nên nghe ai, theo ai, đâu mới là chân lý, chân Pháp, con đường nào mới có thể giúp tôi tu thành chính quả. Tôi xuất một niệm, mình nhất định phải tìm được một vị minh sư, chỉ dạy cho mình con đường tu hành đúng đắn; mình đã buông bỏ mọi thứ trần tục, không phải chỉ để đổi lấy một con đường không tới đích, tu hành nhất định phải đi cho chính. Thế nhưng hành trình tìm kiếm minh sư thật chẳng dễ dàng. Từ những ngôi chùa nổi tiếng đến những tịnh thất trên núi. Từ tịnh viện đến thiền viện, từ bắc vô nam, tôi đã đi qua không biết bao nhiêu ngôi chùa. Đã thỉnh giáo qua không ít vị thầy, từ bậc ẩn tu trên núi đến những bậc thầy nổi danh, nhưng đi tới đâu cũng chỉ ở được một thời gian ngắn, tôi lại chán nản rời đi. Tôi cứ tưởng rằng, cuộc đời người tu hành là thanh cao, giản dị, chùa là nơi thanh tịnh, tâm người tu chẳng nhiễm bụi trần. Thầy là người soi sáng, dẫn đường cho đệ tử trên con đường tu hành Phật Pháp, chúng đệ tử chuyên tâm tu hành, cuối cùng đoạn dứt phiền não, khai trí khai huệ, thoát khỏi luân hồi. Thế nhưng đi tới đâu, cũng thấy cảnh chùa chẳng thanh tịnh, thầy chẳng thanh tu, nếu không cúng bái kiếm tiền, sai đường lạc lối so với lời Phật dạy, thì cũng chìm trong ái dục sắc tình chẳng khác nào cõi thế nhân. Nói tới đây, tôi không có ý phê phán ai, hay tôn giáo nào, chỉ là muốn kể lại hành trình tìm Đạo của mình. Hẳn là mọi người cũng chẳng còn xa lạ gì với những bài báo đưa tin về đủ loại bê bối nơi cửa Phật. Tôi cũng chỉ là xác nhận thêm một chút thôi, có lẽ vẫn có những vị chân tu, chỉ là…tôi không đủ duyên gặp. Khi ấy, tôi không quá xinh đẹp, nhưng cũng gọi là có một chút nhan sắc. Tôi chẳng nhớ đã bao lần vô cửa chùa mà ngỡ rơi vào động bàn tơ, hết bị dụ làm con, lại bị dụ làm người tình, dụ mua xe, mua nhà, thầy nam rồi cả thầy nữ, hết thầy rồi đến đệ tử đồng môn. Than ôi! đi tu mà thân ngọc khó giữ, lòng thành khó tu. Không biết bao nhiêu lần tôi phải trốn chạy, nhưng cũng có lúc lại bị đuổi đi. Khi thì bị quấy nhiễu, lúc lại vì tôi chẳng vâng lời, không chịu đi cúng, không làm việc “Phật sự”. Nào là đám ma, đám giỗ, đám cưới, nhà mới, xe mới,… nào là cầu an, cầu siêu, cầu tài… Toàn thân thấm mùi nhang khói nhưng chẳng thấm đạo. Đến một ngày tôi được nghe các bài giảng về Kinh Pháp Diệt Tận, tôi lại càng thêm tuyệt vọng về con đường tu hành của mình. Trong Kinh có giảng: “Sau khi Như Lai nhập niết bàn, khi giáo pháp bắt đầu suy yếu. Trong đời ngũ trược ác thế, ma đạo sẽ rất thịnh hành; Ma quỷ biến thành sa môn, nó sẽ xuyên tạc và phá hoại giáo pháp của ta. Nó mặc y phục của hàng cư sĩ, ưa thích y phục đẹp đẽ và giới y thì may bằng loại vải có màu sặc sỡ. Nó uống rượu, ăn thịt, giết hại các sinh vật khác và tham đắm thọ hưởng cao lương mỹ vị. Nó không có lòng từ bi và thường mang lòng sân hận, đố kỵ lẫn nhau.” Tôi cảm thán: Chẳng phải đây chính là những gì mình đang tận mắt chứng kiến sao? Những gì tôi đã trải qua, thấy được, nghe được, biết được về sự bại hoại của giới tu sĩ giả tu thời nay, thực sự vượt xa những gì mà mọi người có thể hình dung. Suốt 2 năm, lại là 2 năm, tựa hồ như hai mươi mấy năm. Một thân một mình, tôi lang thang khắp chốn. Đi tới mỏi mệt, đi tới chùn chân chùn ý. Bệnh tật giày vò, con đường bế tắc. Đến một lúc, tôi không thể chịu được nữa, tôi lại nghĩ đến….tự tử. Khi này dù đã biết rõ đạo lý, chết không phải là hết, tự tử là có tội, nhưng trạng thái tâm lý của tôi đã đến cực hạn. Trời đất bao la, chùa chiền nhiều vô kể, nhưng tôi chẳng tìm được nổi một chốn an tu, không thấy đạo, không biết phương hướng tu, tôi thực sự đã sụp đổ… Trong cơn tuyệt vọng, lúc nửa đêm, tôi leo lên một vách tường cao, phía xa là cánh đồng hoang, phía dưới là gạch đá lởm chởm. Tôi thầm nghĩ, nhảy xuống đó không chết thì cũng què quặt. Sao cũng được, cuộc sống quá đỗi mệt mỏi rồi, những năm qua, không bị quấy rối thì cũng bị sỉ nhục, thậm chí bị đánh đập, bị đuổi đi, thành Phật không thấy chỉ thấy thân tàn ma dại. Tôi thực sự đã nhảy xuống, nhưng vẫn sống, thậm chí đến một vết thương cũng không có. Lại phải sống! cũng như lần trước, sau mỗi lần tự tử không thành, tôi lại như được tiếp thêm sức mạnh. Lần này tôi quyết định về Vũng Tàu – nơi có một người từng giới thiệu cho tôi một môn tu Phật, và nói thêm rằng đó là chính Pháp. Đó là khoảng tháng 5 năm 2014, tôi quyết định thử vận may, đằng nào giờ cũng chẳng có gì để mất, chẳng có gì để hy vọng. Và kể từ đó cuộc đời tôi đã có một bước ngoặt lớn… Khi chỉ mới vừa đọc xong Luận ngữ – phần mở đầu của cuốn sách Chuyển Pháp Luân (quyển sách chính của môn tu luyện Pháp Luân Đại Pháp), tôi đã òa khóc. Những giọt nước mắt vừa hạnh phúc vừa bi thương. Hạnh phúc vì nhận ra đây chính là Phật Pháp chân chính mà tôi luôn tìm kiếm, bi thương vì tôi phải mất quá lâu, trải qua quá nhiều đau khổ mới tìm thấy được. Tôi bị chấn động bởi những pháp lý đơn giản nhưng thâm sâu mà Sư phụ Lý Hồng Chí giảng. Tôi say mê đọc tới bài giảng thứ 7, thì hạ quyết tâm “mình nhất định phải tu môn này”, đây mới là chân kinh, mới là chính Pháp mà tôi hằng mong mỏi. Những Pháp lý trong sách đã đánh thông toàn bộ tư tưởng và những thắc mắc về nhân sinh quan, vũ trụ quan của tôi từ thời thơ ấu tới khi trưởng thành và tìm Đạo. Bởi vì đây là công Pháp tính mệnh song tu, vừa tu tính vừa luyện mệnh, nên mặc dù tôi tu luyện không phải vì cầu chữa bệnh, nhưng thân thể vẫn được tịnh hóa, bệnh tật cứ lần lượt khỏi hết lúc nào không hay. Trước đây, khi còn ở chùa, cứ vài hôm tôi lại phải lên phòng y tế (chùa lớn có phòng y tế riêng). Đi khám thì bác sĩ bảo cơ thể này suy nhược lâu năm, cộng thêm chứng viêm xoang hành hạ, những cơn đau tim bất thường, viêm gan, viêm phế quản, viêm dạ dày, rối loạn tiền đình, rối loạn thần kinh thực vật,… Nhưng kỳ diệu thay, kể từ khi đọc sách và tập 5 bài công pháp của Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công), sức khỏe của tôi đã hoàn toàn thay đổi. Trước đây, mỗi mùa đông tôi đều phải vật lộn với chứng viêm xoang và viêm phế quản. Lúc còn ở với mẹ, nhiều đêm đau xoang không ngủ được, thở khò khè như mèo, mẹ đều khóc vì thương tôi, cứ ai mách cho cách gì mẹ cũng đều làm, từ dân gian đến tây y, nhưng vô ích. Vậy mà sau khi tu luyện, những bệnh này đã khỏi hẳn. Tôi cứ như biến thành một người khác, khỏe mạnh và tràn đầy sức sống. Vì Pháp Luân Đại Pháp là môn tu luyện giữa đời thường, nên tôi cũng kết hôn và có con. Chồng tôi cũng là một học viên Đại Pháp lâu năm. Nhìn tôi bình thường như bao người, khiến cha mẹ tôi rất vui; thấy những chuyển biến của tôi, mẹ tôi cũng đã bước vào tu luyện. Trước đây, tôi cho rằng thoát ly thế tục là thanh cao. Cái tâm buông bỏ hồng trần là thức tỉnh. Nhưng tới bây giờ tôi mới nhận ra rằng, cái tâm của mình năm xưa chỉ là “chán cõi hồng trần”, chứ chưa thực sự là buông bỏ. Tôi tuy chưa từng vào thâm sơn cùng cốc, nhưng cũng từng bỏ lại tất cả tương lai tuổi trẻ, để tìm cầu đạo Pháp. Tôi thấy rằng, tu giữa đời thường mới là khó nhất, nói là khó nhất nhưng lại là vững chắc nhất. Một người có thể buông bỏ từ sâu trong tâm, có danh mà không chấp vào danh, có tiền không chấp vào tiền, sống giữa danh lợi tình – tiền, mà thân tâm thản đãng, không lo được mất, tôi nghĩ đó mới là buông bỏ một cách thực sự. Năm xưa, khi tôi đi tu, thân xác tuy khổ, nhưng tự do tự tại, nói là buông bỏ, nhưng thực chất, đâu có nhiều thứ vướng bận để mà buông bỏ? Nhưng khi vẫn phải đối mặt với cuộc sống thực tại, trách nhiệm đầy trên vai, trước có cha mẹ già, sau lưng còn con nhỏ mà vẫn phải tu, phải giữ vững tâm tính, điều đó thực rất khó. Phải mưu sinh, khó lòng dứt được danh lợi. Có gia đình, dễ chìm sâu trong tình cảm. 11 năm qua, tôi cũng bao phen ngụp lặn giữa danh – lợi – tình. Trước đây, tôi tưởng mình đã xem nhẹ danh lợi, bạc tiền. Nhưng kỳ thực ở tuổi ấy, nào có danh lợi bạc tiền đâu mà buông bỏ? Tới khi mưu sinh vất vả, mới thấy vẫn còn ham từng cái lợi nhỏ. Lúc đi tu, tưởng mình chẳng còn tơ tưởng chuyện gái trai, nhưng thực ra là ít tiếp xúc với nam giới, lại chẳng gặp được người như ý, nên tâm tình nguội lạnh. Tới khi gặp được tri kỷ, vẫn chìm đắm, bi lụy trong tình cảm như ai. Có con cái rồi lại sinh tâm ích kỷ, vì muốn bảo vệ chở che cho tổ ấm bé nhỏ của mình mà tâm tình ngày càng hẹp hòi. Nói tới đây, có lẽ nhiều người sẽ thắc mắc, vậy thì 11 năm qua tôi tu cái gì? Thực ra, theo lời Sư Phụ Lý dạy, tôi hiểu rằng, tu luyện chính là lần lần vứt bỏ hết thảy các tâm chấp trước. Nhưng trước hết phải nhìn thấy nó, thừa nhận nó, rồi mới có thể tu bỏ nó. Vì trước đây, ngay cả nhận diện nó tôi còn không biết, thừa nhận nó lại càng không có dũng khí. Suốt hơn chục năm qua, là quá trình tôi không ngừng bóc tách từng cái tâm, hướng nội tìm thiếu sót, rèn luyện bản thân. Chỉ khi chiểu theo tiêu chuẩn Chân – Thiện – Nhẫn, chiểu theo các Pháp lý cao hơn để yêu cầu bản thân, tìm ở bản thân, tôi mới thực sự phân biệt được thế nào là đúng – sai, thiện – ác. Chỉ sau khi tu luyện Đại Pháp, tôi mới nhận ra rằng, tôi không phải là một người tốt và tôi cần phải không ngừng tu sửa. Có người hỏi tôi có hạnh phúc vì những lựa chọn của mình không? Tôi có thể tự tin trả lời rằng: “Tôi rất hạnh phúc!” Đời người sẽ luôn đầy những thử thách, cũng chẳng thiếu những chông gai, nhưng nếu trong tâm có Pháp, thì chính là tại hoàn cảnh khó khăn ấy, chúng ta vẫn có thể cảm nhận được hạnh phúc, vẫn giữ vững được thiện lương, giống cái cây vẫn sừng sững trước giông gió, trong bão tố vẫn vươn mình che chở những chồi non. Là bởi thản đãng mà tự an ổn, là vì vững vàng, thiện lương nên luôn thấy hạnh phúc. Người tu giữa đời thường chính là thân nhập hồng trần nhưng tâm chẳng dính bụi. Pháp lý của Pháp Luân Đại Pháp như kim chỉ nam khiến tôi không còn bị mê mờ, lạc lối giữa thế gian. Nhìn lại hành trình 11 năm tu luyện, nhận ân huệ lớn lao từ Đại Pháp, tôi như được thoát thai hoán cốt, thân thể khỏe mạnh, nội tâm bình an. Từ một sinh mệnh đầy đau khổ, mất phương hướng, rơi vào tuyệt lộ, trở thành một sinh mệnh hạnh phúc, thực sự hạnh phúc. Thật vậy, người tu luyện Chân Thiện Nhẫn là hạnh phúc nhất!